news

Công thức tính gia tăng dân số gấp đôi

Công thức tính gia tăng dân số gấp đôi

DÂN SỐ TĂNG GẤP ĐÔI: QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI


Mục tiêu của chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Việt Nam là phấn đấu đạt mức sinh thay thế và tiến tới ổn định qui mô dân số. Các chỉ tiêu kiểm định thông thường là giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ phát triển dân số, giảm tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ )… Ngoài những chỉ tiêu này, các nhà nhân khẩu học khi xem xét, đánh giá để lập kế hoạch, chiến lược dài hạn phải tính đến thời gian tăng dân số gấp đôi. Đây là một chỉ tiêu phản ánh xu thế dài hạn khi xem xét để giải quyết qui mô dân số trong tương lai của một quốc gia. Chỉ tiêu này cũng cho thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa qui mô dân số với tỷ lệ phát trỉển dân số: Với một tỷ lệ phát triển dân số nào đó, chỉ số này sẽ chỉ cho ta thấy rõ sau bao nhiêu năm thì qui mô dân số sẽ lớn lên gấp đôi.

1. Dân số Việt Nam tăng gấp đôi trong những năm trước đây

Theo số liệu công bố chính thức của Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam năm 1921 là trên 15 triệu người, đến năm 1961 dân số Việt Nam là trên 31 triệu người, như vậy là từ năm 1921 dân số Việt Nam tăng lên gấp đôi sau khoảng 40 năm. Chắc rằng, nếu không có nạn đói năm 1945 thì thời gian này còn ngắn hơn. Nếu dịch lại một số năm, dân số Việt Nam năm 1939 là 19,6 triệu người, dân số năm 1969 là 39,5 triệu người, như vậy là trong thời gian này chỉ sau 30 năm dân số Việt Nam đã tăng lên gấp đôi. Nếu dịch lên nữa dân số Việt Nam năm 1962 là 32,7 triệu người, đến năm 1989 là 64,8 triệu người. Như vậy dân số tăng lên gấp đôi trong thời gian này chỉ còn 27 năm. Rõ ràng là nếu không kế hoạch hoá gia đình hoặc công tác DS-KHHGĐ tiến hành kém hiệu quả thì thời gian dân số tăng gấp đôi rút ngắn dần.

2. So sánh gia tăng qui mô dân số của một số nước

Theo công bố của Văn phòng tham khảo dân số quốc tế của Hoa kỳ (PRB), dân số Hàn Quốc năm 2004 là 48,2 triệu người, Hàn Quốc đạt mức sinh thay thế vào những năm giữa của thập kỷ 80, dân số Hàn Quốc năm 1959 là gần 24 triệu người, như vậy sau 45 năm dân số Hàn Quốc mới tăng gấp đôi. Cũng theo công bố của Văn phòng tham khảo dân số quốc tế, Thái Lan có số dân năm 2004 là 63,8 triệu người, Thái Lan đạt mức sinh thay thế vào những năm đầu của thập kỷ 90, dân số Thái Lan năm 1965 là trên 31 triệu người như vậy sau 39 năm dân số Thái Lan tăng gấp đôi. Như vậy ta thấy rằng nếu sớm đạt được mức sinh thay thế thì sẽ sớm khống chế được qui mô dân số và thời gian để dân số tăng gấp đôi sẽ được đẩy lùi một cách rõ rệt.

3. Công thức tính thời gian dân số tăng gấp đôi

Để xem xét dân số của một quốc gia tăng gấp đôi ta có thể so sánh giữa dân số hiện tại và dân số trong thời gian trước để thấy được quá trình tăng dân số gấp đôi trong thời gia đã qua. Việc xem xét ước lượng (dự báo) thời gian tăng gấp đôi trong tương lai có thể căn cứ vào những dự báo dân số dài hạn, nhưng việc này đòi hỏi phải dự báo dân số và có những yêu cầu nhất định về chuyên môn. Các nhà nhân khẩu học kinh tế đã nghiên cứu và xây dựng một phương pháp tính đơn giản dựa trên nghiên cứu các mô hình phát triển dân số và mối quan hệ giữa tỷ lệ phát triển dân số và thời gian dân số tăng gấp đôi. 

 

Thời gian dân số tăng gấp đôi  (năm)

=

70

Tỷ lệ phát triển dân số (%)

Việc tính thời gian tăng dân số gấp đôi là để xem xét xu thế phát triển của dân số, qua đó hoạch định chiến lược phát triển dân số dài hạn trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Khi tính, sử dụng tỷ lệ phát triển dân số, có cộng hoặc trừ yếu tố di cư quốc tế (đối với một quốc gia) hoặc di cư ngoài vùng (đối với một địa phương) nhưng nếu không có tỷ lệ di cư quốc tế (hoặc ngoại vùng), hoặc tỷ lệ này rất nhỏ, không đáng kể thì có thể coi tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là tỷ lệ phát triển dân số (như đối với nước ta hiện nay).

Thí dụ: Theo kết quả TĐTDS tỷ lệ phát triển dân số năm 1989 của Việt Nam là 2,2 % như vậy theo công thức ta có : Thời gian tăng dân số gấp đôi = 70 : 2,2 = 31,8; Có nghĩa là với tỷ lệ phát triển dân số là 2,2 % thời gian tăng dân số lên gấp đôi là 32 năm. Tức dân số Việt Nam năm 1989 là 64,8 triệu người thì năm 2021 dân số Việt Nam sẽ là 129,6 triệu người.

So sánh với một số nước, theo công bố của Văn phòng tham khảo dân số quốc tế, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2004 của Hàn Quốc là 0,5 %; Thái Lan là 0,8 % như vậy:

Thời gian dân số tăng gấp đôi của Hàn Quốc = 70: 0,5 = 140 năm

Thời gian dân số tăng gấp đôi của Thái Lan = 70: 0,8 = 87,5 năm

  Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ phát triển dân số Việt nam năm 2004 là 1,44 %, như vậy:

   Thời gian dân số tăng gấp đôi của Việt Nam = 70 : 1,44 = 48,6 năm, tuy có được kéo dài so với thời gian trước nhờ công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả tốt trong thời gian qua, nhưng vẫn còn rất ngắn so với Hàn Quốc và Thái Lan. Nhân đây cũng có thể nói thêm là chỉ cần một bước lùi của công tác DS-KHHGĐ như hai năm 2003 và 2004 thì ước tính thời gian tăng dân số gấp đôi của nước ta đã bị rút ngắn. Theo số liệu công bố chính thức của TCTK, tỷ lệ phát triển dân số của Việt Nam năm 2002 là 1,32 % và theo công thức trên thì thời gian tăng dân số gấp đôi của nước ta là : 70 : 1,32 = 53 năm. Nhưng do có có bước lùi của công tác DS-KHHGĐ trong hai năm tiếp theo nên tỷ lệ phát triển dân số năm 2004 công bố là 1,44 %, làm cho thời gian dân số tăng gấp đôi của Việt Nam = 70 : 1,44 = 48,6 năm.

4. Ước tính qui mô dân số ổn định.

 Từ xác định năm đạt mức sinh thay thế, chúng ta có thể dùng phương pháp nhân khẩu học để tính qui mô dân số ổn định. Việc tính toán này là cần, nhưng đòi hỏi phải có người am hiểu chuyên môn nhân khẩu học và thống kê, phải có phương tiện và mất nhiều thời gian để lập dự báo dân số rất dài hạn. Để đơn giản hoá việc ước tính qui mô dân số ổn định, chúng tôi xuất phát từ các số liệu thực tế và tính toán để đánh giá và đề ra cách ước tính sau đây:

a) Hàn Quốc đạt mức sinh thay thế năm 1985 và theo tính toán dự báo của Liên Hợp Quốc công bố năm 2004 thì qui mô dân số ổn định vào giữa thế kỷ 21 của Hàn Quốc sẽ khoảng 50 triệu người, tức gần gấp đôi dân số Hàn Quốc năm 1965 (26 triệu người ).                                                            

b) Thái Lan đạt mức sinh thay thế năm 1992. Theo tính toán dự báo của Liên Hợp Quốc công bố năm 2004 thì qui mô dân số ổn định của Thái Lan sẽ là khoảng 72 triệu người, tức gấp đôi dân số năm 1972 (36 triệu người).

c) Với Việt Nam, trước đây khi xây dựng Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, căn cứ mục tiêu của Nghị quyết BCHTW 4 (khoá 7) chúng tôi đã lấy thời điểm đạt mức sinh thay thế là năm 2015 và đã tính toán qui mô dân số ổn định sẽ là khoảng 145 triệu người. So sánh thấy qui mô dân số này gấp đôi so với qui mô dân số năm 1995 do Tổng cục Thống kê công bố là 71, 986 triệu người.

d) Trước tình hình thực tế là NQTW 4 (khoá 7) về chính sách DS-KHHGĐ đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, chúng ta dự kiến sẽ rút ngắn thời điểm đạt mức sinh thay thế xuống 10 năm, tức là năm 2005 và đã tính toán qui mô dân số ổn định sẽ ở mức 116 triệu người, tức gần gấp đôi dân số năm 1985 (59,872 triệu người).

Qua các số liệu trên có thể rút ra kết luận là qui mô dân số ổn định sẽ tăng gấp đôi so với qui mô dân số khoảng 20 năm trước năm đạt mức sinh thay thế. Ngoài ra có một kết luận nữa là : Càng sớm đạt mức sinh thay thế thì qui mô dân số ổn định càng được khống chế, vì sau khi đạt mức sinh thay thế thì tỷ lệ phát triển DS sẽ tự động giảm dần qua từng năm (do tỷ lệ số phụ nữ sinh ra trước đây khi mức sinh còn cao hơn mức sinh thay thế sẽ giảm dần trong độ tuổi sinh đẻ). 

Cách ước tính này không cần có chuyên môn về nhân khẩu học, không cần có thiết bị tính toán và nhất là không cần nhiều thời gian, nhưng kết quả đủ tin cậy,  cho nên có thể dùng cho các mục đích sau đây:

- Ước tính qui mô dân số ổn định cho cả nước hoặc cho từng địa phương để xây dựng chiến lược phát triển, để tính toán các kế hoạch kinh tế-xã hội dài hạn.

- Nhận thức về tính cấp bách của việc đạt mức sinh thay thế: Với qui mô dân số nước ta từ năm 1985 đến 1995 mỗi năm dân số tăng thêm khoảng 1,1 - 1,2 triệu người thì mỗi năm đẩy lùi mục tiêu đạt mức sinh thay thế làm cho qui mô dân số khi ổn định sẽ tăng thêm khoảng 2,2 - 2,4 triệu người. Điều này càng làm cho chúng ta hiểu hơn ý nghĩa và quyết tâm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính Trị vừa mới ban hành về "Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số và Kế hoach hoá gia đình", nhằm sớm đạt và ổn định mức sinh thay thế, tức trung bình trong toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con.

 Năm 1960 dân số ba nước Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam xấp xỉ nhau ( tương ứng là 25, 26 và 30 triệu người), chỉ vì Hàn Quốc và Thái Lan đã sớm đạt mức sinh thay thế mà dân số ổn định của Hàn Quốc sẽ chỉ khoảng 50 triệu, của Thái Lan chỉ khoảng 72 triệu. Không lý gì, chỉ vì chậm chân trong công tác DS-KHHGĐ, mà Việt Nam không quyết tâm thực hiện cho bằng được nghị quyết của BCT để có thể ổn định qui mô DS ở mức 120 triệu người, một qui mô dân số đã quá cao rồi.


GS. MAI KỶ*

TS. NGUYỄN QUỐC ANH**

* Nguyên Bộ Trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ

** Giám đốc Trung tâm Thông tin, UBDSGĐ&TE


Link nguồn: http://www.gopfp.gov.vn/so-3-48;jsessionid=B80C251A850EE1A0DD29617A79BA5E1B?p_p_id=62_INSTANCE_Z5vv&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&_62_INSTANCE_Z5vv_struts_action=%2Fjournal_articles%2Fview&_62_INSTANCE_Z5vv_version=1.0&_62_INSTANCE_Z5vv_groupId=18&_62_INSTANCE_Z5vv_articleId=2836

 




Tài liệu Địa Lý miễn phí.
Tải app idialy.com để theo dõi nhanh nhất.
idialy.HLT.vn - dialy.HLT.vn
Công thức Dân số Tin tức Tính toán
Lên đầu trang